Tự truyện: Nhiệm mầu thay đức tin

Tôi hồi còn nhỏ học trường tư thực thiên chúa giáo, trốn nhà và vào chùa lúc 14 tuổi, Bổn sư của tôi là Đại Sư Viên Giác, sáng lập Tu Viện Giác Hải ở làng xuân Tự, quận Vạn Ninh, Khánh Hòa Nha Trang. Thầy tôi rất thương tôi nhưng người cho tôi là loại trẻ “cứng đầu”. Thầy tôi tin tưởng và “mê” Đức Quan Thế Âm một cách lạ lung, còn tôi thì hời hợt với chuyện này. Không phải chỉ lúc đi tu trí óc còn non dại mà ngay cả đến khi thọ giới những người đi tu trưởng thành, tôi vẫn quan niệm Đức Quan Thế Âm như một hình ảnh biểu tượng về tình thương, Thờ Bồ Tát Quan Thế Âm chẳng qua là hiếu kính người hiền và nặng lòng tín ngưỡng. Thầy tôi đã huy động dân làng và Phật Tử khắp nơi dựng Quán Âm điện các ở trên đỉnh núi Ông Sư tại làng Xuân Tự để phụng thờ, tôi là người hưởng ứng và săn sóc hương khói một cách bất đắc dĩ!

Năm 1958, tôi không may bị chứng đau đầu thống trầm trọng. Lý do là tôi ham học và thiếu ngủ. Tôi say mê học kinh điển như bộ môn triết học đầy thú vị. Mặt khác tôi lo học chương trình văn hóa ở cấp trung học. Một đêm tôi không ngủ quá ba tiếng đồng hồ. Sau kỳ thi cử không bao lâu, tôi buông bỏ bút nghiên, sự nghiệp học vấn. Đầu tôi như muốn vỡ tung từng mảnh và mắt xốn như bị bão cát lùa vào từng cơn. Mũi chảy ra nước xanh nước vàng. Tôi bỏ ăn bỏ ngũ. Bao nhiêu nhà thương, bác sĩ tây y có tiếng tôi đều tìm đến. Bao nhiêu thầy giỏi thuốc bắc thuốc nam tôi đều khần cầu, nhưng tất cả đều vô hiệu. Tôi vào Sài Gòn chữa bệnh, tinh thần thêm sa sút. Nhiều lần tôi muốn nhảy vào lòng đại dương tươi mát đề tìm giấc ngủ an lành. Thầy tôi biết rõ tình trạng đau khỗ, bi quan của tôi nên thường ở cạnh để săn sóc an ủi. Bao nhiên tiền bạc của một tu viện nghèo, Thầy tôi đã dồn hết để chữa bệnh cho tôi. Thầy tôi đã nhiều tháng thức trắng đêm với tôi và hai Thầy trò cùng thường đi bộ tr6n bờ biển hóng mát để tôi bớt đau nhức vì bệnh hành hạ về đêm.

Có một đêm ngồi tên vịnh eo biển ở Phan Rang, Thầy tôi có vẻ buồn bã lắm, người bảo tôi rằng:

”Thầy thương quý con hơn cả vàng ngọc, nhưng nhiều lúc Thầy rất giận con, vì con ngang ngược, cứng đầu, không chịu nghe lời Thầy tụng kinh Phồ Môn, xưng danh hiệu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát để cầu Ngài chữa bệnh cho con”

Đó là đêm hai Thầy trò chúng tôi ôm nhau mà khóc. Tôi nghe lời Thầy của tôi như con trẻ tin lời mẹ dạy. Tôi không đi cầu chữa bệnh nữa, trở lại chùa ở Xuân Tự, nhập thất ba tháng, chuyên trì tụng chú Đại Bi, Kinh Phổ Môn và niêm danh hiệu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Sau ra thất bệnh chẳng thuyên giảm, tôi vào chùa Ông ờ Nha Trang xin tịnh dưỡng và tiếp tục nhập thất, lễ sám hối, chuyên cần trì niêm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát lien tục không ngớt.

Kỳ diệu thay, sau hai tháng sám hối, nhất tâm xưng danh hiệu Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát, tôi cảm ứng Mẹ Hiền Quán Âm cứu khổ và dứt trừ cơn bạo bịnh. Thân tâm tôi nhẹ nhõm như cuộc tái sinh mới.

Tối đó là ngày rằm, khỏang đầu mùa hè 1960, tôi ngồi thiền và niệm chú Đại Bi nơi gác chuông chùa Ông mà có người còn gọi là Chúc Núi. Lúc đó khỏang hai giờ sáng, tôi thấy một luồng sáng lớn trên trời cao lùa vào gác Chuông, rồi hiện ra một thiên nữ mặ áo trắng trao cho tôi mười hai viên thuốc tễ nhỏ xíu và một bình nước trắng đựng trong lọ thuỷ tinh có buộc giải lụa màu xanh, Thiên nữ xoa đầu tôi và nói:

“Đây là thần dược, ngươi uống xong sẽ hết bệnh, hết khỗ. Nhưng nên nhớ khi khỏe mạnh rồi, lo chăm chỉ hành đạo để cứu người, chớ để vọng tâm buông lung, tình đời chi phối”

Lời thiên nữ hiền dịu như lời mẹ hiền, tôi cúi đầu đãnh lễ tạ ơn và phục mệnh./

Lúc ấy, tôi có cảm giác an lạc lạ lùng. Tôi chắp tay cung kính cầm thuốc bỏ vào miệng uống mà không nói một lời nào. Vi thiên nữ bảo tôi nằm ngũ để lấy lại sự bình an trước khi người biến vào hư không. Sau một giấc ngủ dài, tôi thức dậy không cảm thấy đau đầu nữa. Bệnh tôi chấm dứt hẳn. Hình ảnh người thiên nữ mặc áo trắng kia là ai, tùy mỗi người đặt tên gọi. Sự “cứng đầu” của tôi đã bắt đầu “mềm” từ đóp. Tôi tin tưởng và tích cực tìm hiểu về hạnh nguyện cứu khổ của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khởi đi từ sự cảm ứng này. Hôm tôi lành bệnh trở lại chùa, trong bữa cơm liên hoan của đại chúng chào đón và mừng tôi, thầy tôi có tặng tôi bài thơ mà tôi đã nằm lòng:

Thương con như trái tim mình
Thương con vượt thóat ngục hình đớn đau
Quán Âm Bồ Tát nhiệm màu
Trí bi song vận duyên hành ứng cơ
Tín tâm dứt mối nghi ngờ
Thuyền từ đưa đến bến bờ an vui
Đường tu mãi tíến chớ lùi
Giới răn gìn giữ ngọt bùi chớ mê
Tịnh thiền định huệ đường về
Ngộ tâm đạt tánh nguyện thề độ sanh
Bồ Đề quả kết chóng thành
Nối dòng Phật Tổ cứu người trầm luân.